A Tỷ Phùng Gia


Chương 2

4.

A tỷ nói mang ta chạy trốn, đúng là thật sự đi trốn. Nàng lấy từ trong bọc ra bộ quần áo vá chằng vá đụp bảo ta mặc vào, còn bốc đất bùn bôi lên mặt ta.

A tỷ nói muốn đưa ta đi về phía Bắc. Ta thấy trong lòng dâng lên một nỗi sợ hãi. Người trong làng kỳ thực đã đồn đại từ lâu, nói rằng cục diện bên ngoài đều đã loạn lạc rồi.

Tĩnh Vương ở tận Bắc Thành xa xôi mang theo năm trăm vạn binh lính hùng mạnh tạo phản, thẳng tiến Lạc Đô, chỉ trong vài tháng đã công hạ được mấy tòa thành trì, nơi nào đi qua cũng khiến dân chúng lầm than, thây phơi đầy đồng.

Làng chúng ta ở phía nam Lạc Đô, cách Bắc Thành rất xa rất xa. Tin tức trong làng bế tắc, nam nhân thường bàn tán chuyện gái lớn gả chồng hay cô dâu nhà nào mới cưới hơn là chuyện chính sự chiến tranh.

Nhưng A tỷ nói kinh đô đã bị Bắc Tĩnh Vương công phá, ban đầu lão Hoàng đế của chúng ta muốn dẫn binh dời khỏi đô thành, nơi dời đến lại chính là thành Lợi Châu cách làng chúng ta không xa.

Nếu tái kiến một lần nữa, với khí thế như chẻ tre của Bắc Tĩnh Vương, tuyệt đối không thể để mặc lão Hoàng đế yên ổn ở một chốn. Trận chiến này, nhất định phải đánh.

“Phải chạy trốn trước khi lão Hoàng đế xây dựng xong kinh đô.”

“Tiểu muội có sợ không?”

A tỷ vừa nói, vừa xé bỏ chiếc áo cưới đỏ tươi từ trên người ta xuống, hít sâu một hơi rồi dùng vải bông quấn chặt ngực lại. Nhìn đã thấy đau, ta nhỏ nhẹ đáp:

“Chỉ cần có A tỷ, muội không sợ.”

5.

Chúng ta nhặt được khá nhiều khoai lang ngoài đồng, chất đầy một túi rồi lên đường hướng về phía Bắc. Càng đi về phía Bắc lại càng gặp nhiều người ăn mày và dân tị nạn.

Chúng ta đi ngược chiều với dòng người. Dù đã bôi bùn đất lên người, lại mặc quần áo rách rưới vá chằng vá đụp, nhưng so với những người tị nạn thực sự, chúng ta trông vẫn có chút sạch sẽ gọn gàng.

Càng lúc càng nhiều người lướt qua nhìn chúng ta. Những ánh mắt này giống như ta đã từng thấy qua rồi. Cay nghiệt tàn độc hơn cả ánh mắt mẹ chồng nhà họ Trương, lại có chút hoang mang hơn cả ánh mắt của người mẹ có công sinh công dưỡng của ta.

Càng đi về phía trước, ta càng cảm thấy sợ hãi hoang mang. Mười bốn năm cuộc đời, ta chưa từng bước chân ra khỏi làng, càng đừng nói đến chuyện trong thị trấn, Bắc Thành cũng chỉ nghe được từ miệng người lớn nhắc đến.

Nhưng A tỷ rất kiên định, ban đêm nàng tỉ mỉ lau chùi thanh trường đao đã khai nhận. Qua bóng đao, ta thấy đôi mắt dâng đầy lo lắng bất an của chính mình.

“Ở lại nơi đây, chúng ta đều thân bất do kỷ. Chỉ cần có một phần vạn khả năng chạy thoát, đều đáng để thử.”

So với nữ tử bình thường, A tỷ có dáng người cao ráo, mày mắt kiên nghị, sau khi quấn ngực lại càng giống một nam tử trẻ tuổi. Thời buổi loạn lạc này, thân thể nam tính khỏe mạnh, mặc dù bên cạnh có nữ nhân gầy gò như ta cũng có sức uy hiếp hơn nhiều so với người già yếu, phụ nữ cùng trẻ em.

Trừ một tên ăn mày bám theo chúng ta nửa đường, cũng không có ai đến quấy rầy.

Đêm xuống, chúng ta tìm một ngôi miếu hoang, đào một cái lỗ nhỏ bằng bàn tay trên mặt đất, ném khoai lang vào nướng, đợi đến khi lửa tắt, khoai lang nguội lạnh không còn mùi thơm nữa mới lấy ra từ từ nhai nuốt.

Tên ăn mày què chân tranh giành với những kẻ tị nạn khác một chút cháo loãng cũng không được, ta thấy hắn đáng thương, mỗi lần đều chừa lại một phần ba khoai lang của mình trong hố đất. A tỷ thấy vậy cũng chỉ xoa đầu ta, không hề nói lời cấm đoán.

Đến ngày hôm sau chúng ta rời đi, ta quay đầu nhìn lại, thấy tên ăn mày như con chó điên bới tung đống đất, nuốt chửng khoai lang lẫn cả đất.

Liên tục mười mấy ngày, đều là như vậy. Ta và A tỷ đi trước, tên ăn mày đi sau. Cố gắng hết sức, dù chân phồng rộp hết cả lên, vừa đỡ hơn một chút lại vỡ bọng nước, vỡ rồi lại lành, ngày thứ mười lăm rời khỏi làng, chúng ta cuối cùng cũng đến được thành Lợi Châu.

Thế nhưng…

Tường thành cao ngất, cổng thành đóng chặt. Binh lính mặc giáp vải đen canh giữ trước cổng thành, giương trường thương chỉ thẳng vào đám dân lưu vong nán lại bên ngoài.

Tất cả chỉ chứng minh một điều.

Chúng ta đã đến muộn rồi.