Vong Sơn


Chương 8

10.

Hôm sau, Ôn Ý đem chiếc áo khoác đã giặt sạch trả lại cho tôi.

Cả buổi sáng, cô ấy cứ lén lút nhìn tôi, do dự không biết có nên mở miệng hay không. Mãi đến buổi chiều khi tan học, cô ấy mới lấy hết dũng khí, mời tôi đến nhà ăn cơm.

“Hôm qua về nhà, tôi có kể chuyện này với bà nội. Bà bảo tôi đưa cậu về, bà sẽ làm đồ ăn ngon cho cậu.”

Ôn Ý căng thẳng nắm chặt góc áo, trong mắt vừa mong đợi vừa bất an: “Hôm nay được nghỉ, Chung Nguyệt, cậu có muốn đến nhà tôi chơi không?”

Giọng cô ấy cẩn trọng, như sợ tôi sẽ từ chối. Tôi suy nghĩ một lát, khoác balo lên đứng dậy, đi được mấy bước mới phát hiện Ôn Ý vẫn chưa theo sau. Tôi quay đầu lại nói: 

“Đi thôi, chẳng phải muốn mời tớ ăn cơm sao?”

Trong giọng nói của tôi ẩn chứa ý cười. Ôn Ý sững sờ nhìn tôi, đến khi phản ứng lại, biểu cảm ủ rũ trên mặt lập tức tan biến, thay vào đó là một nụ cười ngượng ngùng mà vui sướng.

Ra đến cổng trường, sau khi gọi điện thoại cho mẹ xong, tôi vô tình hỏi: “Nhà cậu cách trường xa không?”

Ôn Ý thành thật gật đầu: “Cũng hơi xa.”

Nhất Trung có căng tin nhưng không có ký túc xá, tôi cau mày: “Thế ngày nào cậu cũng đi học về nhà kiểu gì?”

“Đi bộ.” Ôn Ý nhìn tôi, ngốc nghếch đáp: “Đôi khi còn chạy nữa.”

Tôi nhìn đồng hồ, thấy thời gian vẫn còn sớm.

“Đi thôi.” Tôi kéo quai balo chặt lại, ra hiệu cho Ôn Ý dẫn đường, “Hôm nay tớ đi cùng cậu, xem như rèn luyện sức khỏe.”

Cô ấy vui vẻ gật đầu, thế là chúng tôi lên đường.

Trên đường đi, Ôn Ý trò chuyện không ngừng với tôi. Trong cuộc trò chuyện, tôi biết được cô ấy và mẹ tôi giống nhau, đều là những cô gái bước ra từ vùng núi. Một số đặc điểm của cô ấy rất giống mẹ tôi, ví như chân chất, lương thiện, kiên cường, điều này khiến tôi dần có thiện cảm với cô ấy.

Tôi cũng nhận ra thực ra cô ấy không phải là người quá hướng nội, chỉ là không ai muốn chơi cùng, hơn nữa vì hoàn cảnh gia đình và xuất thân mà cô ấy cũng e ngại việc kết giao với người khác.

Ôn Ý nói rằng tôi là người thứ tư trên thế giới đối xử tốt với cô ấy. Người đầu tiên là bà nội, người thứ hai là giáo viên chủ nhiệm hồi tiểu học, người thứ ba là người có lòng tốt tài trợ cho cô ấy học cấp ba.

“Chung Nguyệt, cậu thật tốt với tớ.”

Lúc Ôn Ý nói câu này, vẻ mặt cô ấy như thể tôi đã làm một chuyện gì đó vĩ đại lắm. Nhưng thực ra, tôi chỉ đưa cho cô ấy một miếng băng vệ sinh mà thôi.

Nhưng khi tôi băng qua những con phố sầm uất, đi đến rìa thành phố, nhìn thấy căn nhà cũ kỹ xập xệ cùng bà lão đứng trước cửa chờ đợi, tôi bỗng chợt hiểu vì sao cô ấy lại có suy nghĩ như vậy.

Sự ưu ái và lòng trắc ẩn mà ông trời dành cho cô ấy quá ít ỏi nên dù chỉ một chút cũng khiến cô ấy trân trọng vô cùng.

Bà nội Ôn Ý xoa đầu tôi, sau đó vào vườn hái ớt. Bên kia, Ôn Ý bê một chiếc ghế nhỏ đến, cùng tôi ngồi dưới mái nhà cũ kỹ lọt gió tứ phía.

“Bà nội tớ không nói được.”

Cô ấy dùng vài câu ngắn gọn để phác họa quá khứ.

Ba mươi sáu năm trước, vào một ngày bình thường, một cô gái mười chín tuổi lên chuyến tàu về nông thôn. Tàu dừng ở ga, cô ấy đi vệ sinh nhưng khi chưa kịp phản ứng thì sau gáy đã đau nhói. Đến khi tỉnh lại, cô ấy đã bị bán vào một vùng núi sâu, trở thành vợ của một người đàn ông lớn hơn hai mươi tuổi.

Từ đó, thế gian mất đi một nữ thanh niên trí thức nhưng lại có thêm một người đàn bà điên bị cắt lưỡi, ba ngón tay bị bẻ gãy vì bạo hành gia đình.

“Cậu yên tâm đi, Chung Nguyệt, bà nội tớ không đánh người đâu!”

Nghe đến đây, Ôn Ý vội vàng giải thích: “Sau khi người đàn ông đó chết, bà nhặt được tớ ở bờ sông, đầu óc tỉnh táo hơn nhiều, bây giờ chỉ thỉnh thoảng mới nói sảng thôi… Cậu đừng sợ bà nhé.”

Tôi không hề sợ hãi, chỉ cảm thấy có chút đau lòng. Một người già vừa khiếm khuyết về thể chất lẫn tinh thần đã nuôi nấng một cô bé khôn lớn, cho cô đi học biết chữ, lại còn dẫn cô chạy trốn khỏi ngọn núi ấy. Chỉ nghĩ thôi cũng đủ biết trong đó có bao nhiêu gian khổ.

Ôn Ý kể, hồi nhỏ bà ngoại biết viết tiếng Nga, còn dạy cô chơi đàn piano bằng cách vẽ phím đàn lên nền đất sét. Tôi không dám tưởng tượng, cuộc đời vốn có của bà sẽ như thế nào.

Chiều hôm đó, chúng tôi đã nói chuyện rất nhiều. Về sau, bà của Ôn Ý nấu thịt băm trứng hấp cùng ớt da hổ. Đối với hai bà cháu họ, đây là một bữa ăn hiếm khi được coi là thịnh soạn, vậy mà bát cơm đầy ắp trước mặt lại chỉ có của riêng tôi.

Tôi ăn sạch cơm và thức ăn trong bát, bà vui mừng khôn xiết, giơ hai tay lên không trung vẽ vẽ gì đó, cổ họng phát ra những tiếng “a a” mơ hồ.

Ôn Ý bật cười, giải thích: “Bà nói cậu thích ăn cơm, là một đứa trẻ ngoan.”

Cổ họng tôi nghẹn lại, không biết phải nói gì.

Người bà chạy trốn khỏi ngọn núi với những ngón tay bị cụt, Ôn Ý bị bỏ rơi bên bờ sông, căn nhà ẩm ướt tối tăm, thu nhập ít ỏi từ việc nhặt phế liệu, học phí đắt đỏ, đồ ăn thiếu thốn, quần áo nhặt lại, giấy vệ sinh mua cả lốc và cả thứ xa xỉ là những miếng băng vệ sinh có giá năm hào một miếng…

Một thế giới khác trần trụi và đau thương, bày ra ngay trước mắt tôi.

Sau đó, khi Ôn Ý tiễn tôi ra về, bà gọi chúng tôi lại.

Bà cúi xuống, loay hoay dưới gầm giường hồi lâu rồi lấy ra một hộp sữa bột đã rỉ sét, móc từ bên trong hai tờ năm hào, đưa một tờ cho Ôn Ý, một tờ cho tôi.

“A… a…”

Bà chỉ vào miệng mình, ánh mắt cười híp lại.

Ngoan nào, bà cho tiền mua đồ ăn ngon.

Lòng tôi thắt lại, ngón tay cầm tờ năm hào siết chặt, vị đắng nhàn nhạt lan dần từ đầu ngón tay đến tận đáy lòng.

Tối hôm đó về đến nhà, tôi đã suy nghĩ rất lâu.

Khi tiếp xúc với người khác, tôi chưa bao giờ tự cho mình là người tốt. Nhưng lần đầu tiên, tình cảnh khó khăn của những người phụ nữ ở đáy xã hội hiện lên rõ ràng trước mắt tôi khiến tôi không thể làm ngơ.

Ôn Ý giống như một chú cá mắc cạn trên sa mạc.

Tôi không có khả năng đưa cô ấy trở về biển rộng, điều duy nhất có thể làm, chẳng qua chỉ là vẩy lên người cô ấy vài giọt nước. Tôi hiểu rõ sa mạc mênh mông biết bao, vài giọt nước chẳng thể xoa dịu cơn khát.

Nhưng chú cá ấy vẫn rất để tâm.

Và tôi cũng vậy.